Chào mừng bạn đến với Chà Chà Audio.
Truyện hôm nay kể về Tiêu Nguyệt, một cô bé mồ côi sinh ra đã có sức mạnh trời ban, lớn lên trong núi bằng nghề săn thú. Năm chín tuổi, cô cứu một bà lão, rồi bất ngờ trở thành đích nữ của phủ tướng quân. Từ một cô bé chỉ mong bữa nào cũng có thịt ăn, Tiêu Nguyệt bước vào hoàng cung, ra chiến trường, và đối mặt với những âm mưu đủ sức thay đổi cả một triều đại.
Mời bạn cùng lắng nghe.
Ta là một thợ săn trong núi.
Ta không cha không mẹ, sống ở ngôi làng dưới chân núi. Người trong làng bảo ta trôi theo dòng sông mà đến, tiếng khóc vang trời, đến bầy sói trong rừng cũng tru lên theo.
Làng ngóng mưa suốt mấy tháng, ta vừa đến thì trời đổ mưa. Ông lý trưởng cho đó là điềm lành, bèn đứng ra giữ ta lại.
Ta là con gái. Đó là điều ông lý trưởng cứ lẩm bẩm tiếc mãi. Giá ta là con trai, nhất định sẽ xông pha làm nên chuyện lớn.
Bởi ta sinh ra đã có sức mạnh trời ban. Năm tuổi đã xuống ruộng làm việc. Chiếc cày phải một người đàn ông trưởng thành mới khiêng nổi, ta kéo nhẹ như không.
Nhưng người trong làng lại sợ ta, coi ta là quái vật. Ta đành đi giúp những nhà thiếu người làm, đổi lấy một miếng cơm.
Trời mãi không chiều lòng người, mùa màng trong làng mỗi năm một kém. Ta bèn lên núi.
Ta từng giết sói, giết báo, giết cả hổ. Da lông thú bán được giá, đủ để bữa nào ta cũng no bụng. Người trong làng thấy ta vẫn hay xì xào sau lưng, nhưng ta không để tâm. Ăn no mới là quan trọng nhất.
Năm ta chín tuổi, ta gặp một bà lão trên núi.
Nửa người bà treo lơ lửng ngoài mép vực. Chiếc xe ngựa lật cách đó không xa, gần như vỡ nát. Ta nửa bế nửa kéo đưa bà về nhà, đắp qua ít lá thuốc.
Tỉnh dậy, bà vừa khóc vừa cười, một lúc lâu mới nhìn thấy ta, hỏi ta là ai. Ta thật thà kể cho bà nghe.
Bà lão bị thương ở chân, không đi được. Ta biết bỏ bà ra ngoài thì bà chắc chắn sẽ chết, bèn chăm bà mấy hôm.
Ta ăn thịt, bà ăn rau với cám gạo. Ta không thấy thế có gì sai. Bà vốn là người ta nhặt về, ta đâu thể cho bà ăn thịt được.
Bà không đòi thịt, ta cũng chẳng để ý đến vết thương của bà, chỉ chui vào rừng đi săn. Ông lý trưởng từng cho ta một cây cung gỗ với mấy mũi tên, dùng rất thuận tay.
Thấy ta vác một con gấu về, bà lão sững sờ.
“Con gấu này là cháu săn được sao?”
Ta không đáp, chỉ miễn cưỡng nói: “Đợi bán nó đi, ta cho bà ăn một bữa thịt. Nhưng chỉ một bữa thôi.”
Gấu không dễ săn. Chúng khôn lắm.
Ánh mắt bà lão nhìn ta đã khác. Trong đó có thêm thứ gì đó mà ta không hiểu.
Ta bán con gấu, mua hai chiếc bánh nhân thịt bò ngoài chợ. Bình thường ta chẳng nỡ ăn, năm văn tiền một chiếc cơ mà. Vậy mà bà lão lại bảo bà ăn chay niệm Phật, không ăn thịt. Ta mừng lắm, hai miếng gộp làm một, ăn sạch cả hai chiếc.
Ta lén nhìn bà. Mặt bà tuy đầy nếp nhăn, nhưng đi đứng làm việc gì cũng thong thả, khoan thai.
Qua ít hôm, ta với bà lão sống với nhau cũng xem như hòa thuận. Ta ra ngoài đi săn, bà ở nhà gấp quần áo, gấp chăn cho ta. Bà không làm được việc nặng, nhưng căn nhà nhờ có bà mà sáng sủa hẳn lên.
Ta nghĩ, đây là cảm giác có mẹ sao? Thảo nào lũ trẻ trong làng cứ cười ta không có.
Bà còn không ăn thịt, dễ nuôi. Ta bảo bà: “Bà là một bà lão tốt.”
Bà hỏi: “Vậy cũng có bà lão xấu à?”
Ta gật đầu. Trong làng có mấy bà lão hễ thấy ta là cầm roi đòi đánh, bảo ta là quái vật.
Bà nắm lấy tay ta, nghiêm trang nói: “Cháu không phải quái vật.”
Ta bị vẻ nghiêm túc của bà làm cho khựng lại, gãi đầu: “Thôi được, vậy ta không phải.”
Cho đến một ngày, bên ngoài kéo đến mấy chiếc xe ngựa. Những người đi theo mặc giáp bạc, binh khí trong tay lóe sáng dưới nắng. Người trong làng sợ chết khiếp.
Người dẫn đầu vừa tới đã quỳ sụp xuống. Bà lão nói với hắn mấy câu, hắn mới đứng dậy.
Rồi bà quay sang ta: “A Nguyệt, cháu có muốn đi cùng bà không?”
Ta chưa nghĩ xong, ngẩng mặt nhìn bà: “Bà đi đâu?”
“Đến một nơi tốt.”
“Vậy ta có được ngày nào cũng ăn thịt không?”
“Bữa nào cũng có.”
Ta gật đầu: “Được.”
Ta theo bà lão về nhà. Chúng ta đi rất lâu, rất lâu, lâu đến mức không còn nhìn thấy ngọn núi ta lớn lên nữa, rồi vào một nơi gọi là kinh thành.
Những ngày ấy ta mới biết, bà lão vốn có ăn thịt. Bà chỉ nghĩ trẻ con thì nên ăn nhiều một chút. Quả nhiên bà là một bà lão tốt.
Nhà bà rất lớn, rất bề thế. Trên cổng treo tấm biển có mấy chữ ta không đọc được. Bà nói bà là lão phu nhân của phủ tướng quân. Trên đường đi chùa dâng hương thì bị sơn tặc chặn cướp, may nhờ có ta mới giữ được mạng.
Thế là ta có thêm một cái tên, gọi là ân nhân cứu mạng.
Bà lão nói, từ nay ta là cháu gái của bà.
Làm cháu gái là chuyện tốt. Có giường rất mềm, rất mềm để ngủ. Không phải nhúng đôi tay đầy cước vào nước lạnh nữa, như thế đau lắm. Có mấy chị lớn bôi thuốc cho tay chân ta, ngứa ngứa. Các chị dặn không được gãi, ta đành nhịn. Dù sao từ khi đến đây, bữa nào cũng có thịt ăn.
Nhưng đêm đầu tiên ở phủ tướng quân, ta không ngủ trên giường.
Nệm mềm quá, nằm xuống là lún cả người. Ta sợ làm hỏng, bèn ôm chăn ngồi dưới chân giường.
Bà tìm thấy ta ở đó. Bà không gọi người đến trách phạt, chỉ chậm rãi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh.
“Không quen sao?”
Ta gật đầu.
“Bà cho ta ăn thịt, còn cho quần áo. Ta phải làm việc gì?”
Bà nhìn đôi tay ta. Mấy vết nứt trên đầu ngón vừa được bôi thuốc, vẫn còn bóng dầu.
“Trước hết, phải để những chỗ này lành lại đã.”
Ta nghĩ một lúc, rồi hỏi điều mình nghe các ma ma thì thầm ngoài cửa.
“Bà muốn ta làm con gái của tướng quân, để ông ấy khỏi bệnh à?”
Bà im lặng rất lâu.
“Bà có mong như vậy.”
Bà không chối.
“Nhưng đó là điều bà mong, không phải món nợ cháu phải trả. Cháu cứu mạng bà. Bà đưa cháu về vì không muốn cháu tiếp tục một mình trong núi nữa.”
Ta ngẩng đầu.
“Nếu ông ấy không thích ta thì sao?”
Bà kéo chăn phủ kín chân ta.
“Thì cháu vẫn là cháu gái của bà.”
Tối đó, ta thử leo lên giường lần nữa. Nệm vẫn mềm đến kỳ lạ, nhưng lần này ta không xuống nữa.
Hôm sau, bà bảo ta phải gọi bà là tổ mẫu. Ta không biết đó là gì, nhưng ai cho ta thịt ăn thì ta nghe người đó.
“Tổ mẫu.”
Bà cười, rồi rất nhanh lại thôi cười. Ánh mắt bà trông có chút buồn.
“Tổ mẫu đưa con đi gặp một người. Từ nay về sau, người ấy là cha con.”
Ta gật đầu.
Cha trông rất luộm thuộm.
Râu ông dài thườn thượt, còn dài hơn cả râu ông lý trưởng, không chải chuốt nên rối bù. Dưới mắt thâm quầng, trong mắt toàn tia máu đỏ, nhìn rợn cả người.
Ông chẳng buồn nhìn ta, cứ ngồi bệt dưới đất. Trong phòng bốc ra một mùi rất hôi, rất hôi. Dưới sàn bày đầy những vò sành màu nâu đỏ.
Tổ mẫu nói: “Con không được uống nữa. Con còn định như thế này đến bao giờ?”
Cha không nói gì, chỉ cựa mình một cái. Tóc rủ xuống gần che kín mặt.
“Từ nay, đây là con gái của con.”
Cha vẫn không nhìn ta: “Con không có con gái. Uyển nương chết rồi, con của con cũng theo nàng mà đi rồi.”
Nói xong, ông ôm mặt khóc nức nở.
Tổ mẫu nắm tay ta thật chặt, quay sang nhìn ta: “A Nguyệt, đây là cha con. Con giúp ông ấy khỏe lại, được không?”
Ta còn chưa kịp nói gì, cha đột nhiên ném một vò rượu xuống ngay chân ta.
“Cút! Cút hết cho ta!”
Ta thấy mặt tổ mẫu trắng bệch.
Ta bước lên, vỗ một cái vào đầu cha.
Cha sững người. Tổ mẫu cũng sững người.
“Cha không nghe lời!”
Cha còn chưa kịp mở miệng, ta đã nhấc bổng ông lên khỏi mặt đất, phát thêm mấy cái vào mông.
“Cho cha không nghe lời này! Cho cha không nghe lời này!”
Hồi ở làng, người lớn đều dạy trẻ hư như thế. Cha ném đồ về phía tổ mẫu, cha là người xấu.
Cha có lẽ bị đánh đến ngớ người, nhưng cơn đau lại khiến ông tỉnh ra.
“Ngươi… ngươi dám…”
Ông chộp lấy tay ta, mắt trừng trừng nhìn ta: “Đủ rồi!”
Ta chỉ học theo người lớn trong làng thôi mà.
“Cha ném tổ mẫu, cha sai. Cha còn không nghe lời, lần sau ta lại đánh.”
Cha nhìn ta, mặt đầy vẻ không tin nổi.
Tổ mẫu lại hoàn hồn trước. Bà chậm rãi lên tiếng: “Con bé tên là Tiêu Nguyệt. Từ nay, nó là đích nữ của phủ tướng quân chúng ta.”
Tổ mẫu kể, vợ của cha, cũng là mẹ ta, khó sinh mà mất, một xác hai mạng. Cha đau buồn quá độ, cả ngày sống mơ mơ hồ hồ.
Ta thắc mắc hỏi tổ mẫu: “Nhưng cha vẫn còn tổ mẫu mà?”
Tổ mẫu khựng lại, khẽ thở dài: “Phải rồi.”
Tổ mẫu không thường đến chỗ ta. Bà cả ngày ở trong Phật đường, tụng kinh cầu phúc cho cha, cho cái nhà này.
Còn ta, ngày nào cũng bưng bát cơm của mình đến chỗ cha. Tổ mẫu cho ta thịt ăn, ta không biết lấy gì báo đáp.
Ta còn mang theo một cành cây. Cha mà không chịu ăn cơm, ta sẽ cho ông thấy.
Ngày đầu, cha say khướt nằm sõng soài dưới đất, chẳng biết ta đến. Ta đặt bát cơm cạnh tay ông, ngồi chờ đến khi cơm nguội ngắt.
Ngày thứ hai, ta bị lính gác chặn ngay ngoài cửa.
“Đại tiểu thư, tướng quân có lệnh, không cho người vào.”
Ta nhìn cành cây trong tay, ném sang một bên.
“Ta không mang cái này nữa. Vậy cho ta vào nhé?”
Vẻ mặt lính gác muôn màu muôn vẻ: “Đây là lệnh của tướng quân, mạt tướng không thể không theo.”
Ta nghĩ ngợi một lát, gật đầu: “Thôi được.”
Ta đi vòng một vòng, tìm được một cái lỗ chó dưới chân tường. Người ta nhỏ, chui một cái là lọt.
Cha nhìn thấy ta ở đầu giường thì mặt như gặp ma.
“Sao ngươi lại tới nữa?”
“Tổ mẫu bảo người một nhà phải cùng nhau ăn cơm.”
Cha nghiến răng nghiến lợi: “Cút ra ngoài! Người đâu!”
Ta bị lính gác xách ra. Hôm sau, cái lỗ chó đã bị lấp.
Ngày thứ ba, ta trèo tường vào. Ngày thứ tư, ta leo cây vào. Ngày thứ năm, ta đạp thẳng cửa viện, đạp đến nứt cả cánh cửa.
Ta không hiểu sao cha mãi vẫn chưa khỏe lại. Có lẽ ông thích bị ta làm phiền chăng. Đúng là một sở thích kỳ quặc.
Hôm ấy ta không đến chỗ cha, vì tổ mẫu nói phủ có khách. Ma ma thay quần áo cho ta, ta theo tổ mẫu ra tiếp khách.
Trong vườn bày một bữa gia yến. Người đến là nhị phòng và tam phòng của phủ tướng quân, ai cũng đưa cả vợ con theo.
Lúc tổ mẫu giới thiệu ta, tất cả bọn họ đều lộ ra cùng một vẻ mặt. Vẻ mặt ấy, ta đã thấy rất nhiều lần ở trong làng.
Vợ nhị phòng người gầy gò, như một cơn gió thổi qua cũng ngã, vậy mà lời nói sắc như dao.
“Lão phu nhân nhặt đâu ra con nhóc nhà quê này vậy? Hồi trước Ninh Ninh nhà con xin người bao lâu, muốn được làm con thừa tự của đại ca, người một mực không chịu. Bây giờ lại để không cho một đứa người ngoài.”
Vợ tam phòng cũng phụ họa: “Đúng đấy, lão phu nhân thiên vị cũng quá rõ ràng rồi. Huống hồ đại ca bây giờ như thế, sao gánh nổi Tiêu gia? Chỉ sợ cả phủ tướng quân sẽ hủy trong tay huynh ấy mất.”
Tổ mẫu cao giọng: “Còn chưa đến lượt các ngươi chen miệng! Phủ tướng quân rộng lớn này là do đại ca các ngươi chinh chiến mười mấy năm đổi lấy, càng là anh liệt Tiêu gia đem mạng ra giành về. Ta nói con bé là đích nữ, thì nó là đích nữ.”
Mấy người nhao nhao cãi nhau. Ta nghe không hiểu, lại bị ồn đến đau cả đầu, bèn mượn cớ đi vệ sinh, lặng lẽ chuồn đi.
Có người để ý, đuổi theo ra. Là hai đứa con trai lớn hơn ta mấy tuổi, hình như là con nhà nhị phòng.
“Đứng lại! Đồ con hoang, dám mò đến phủ tướng quân nhận họ hàng bừa bãi. Ngươi có xứng không? Biết điều thì cút về núi đi, đừng ở đây chướng mắt, không thì đừng trách ta!”
Nó vừa nói vừa giơ nắm đấm về phía ta dọa nạt.
Đánh nhau thì ta chưa thua bao giờ. Ta chộp lấy nắm đấm của nó, vặn mạnh một cái.
Chỉ nghe một tiếng rắc giòn tan. Nó hét lên, ngã lăn ra đất.
Ta bĩu môi: yếu quá đi.
Chẳng mấy chốc, ai nấy đều bị tiếng kêu như lợn bị chọc tiết của nó kéo tới. Vợ nhị phòng lao đến: “Con ơi!”
Cổ tay nó cong vẹo một cách kỳ dị, sưng vù lên.
Nó hằn học nhìn ta: “Đồ tiện tì, dám đánh ta ra nông nỗi này!”
Lang trung trong phủ vội vã chạy tới. Vị đường huynh vô dụng này bị ta vặn trật khớp tay.
Nhị phòng khóc lóc ầm ĩ, đòi tổ mẫu cho một lời giải thích. Tổ mẫu hết cách, đành đưa ta đến từ đường chịu gia pháp.
Gia pháp chính là quỳ trong từ đường.
Nửa đêm, ma ma bên cạnh tổ mẫu lén mang cho ta một cái đệm. Nhưng ta quỳ suốt một đêm, đầu gối vẫn sưng lên, đi đứng không duỗi thẳng chân được. Ta đành nghỉ hai ngày không đến chỗ cha.
Ngày thứ ba, ta lại đến viện của cha. Lần này lính gác không cản.
Cha không uống rượu. Ông ngồi ngay ngắn, sắc mặt bớt xanh xao đi đôi chút.
Ta đi khập khiễng, nhưng khí thế không hề giảm: “Cha, hôm nay cha có nghe lời không?”
Cha không trả lời. Ông nhìn đầu gối ta, rồi nhìn cành cây ta lại nhặt về mang theo.
“Chân con bị làm sao?”
Ta kể lại chuyện hôm trước.
Cha im lặng hồi lâu: “Ai dạy con hễ không nghe lời là phải đánh?”
“Trong làng ai cũng như vậy.”
Ông đưa tay ra. Ta tưởng ông lại muốn giật cành cây, liền giấu nó ra sau lưng.
Nhưng ông chỉ gọi người mang thuốc tới.
“Sau này không dùng thứ ấy nữa.”
Ông tự tay bôi thuốc lên đầu gối ta, lại nói: “Đứa nhóc kia sai trước. Nhưng con bẻ tay nó ngay trước mặt bao nhiêu người, là con để kẻ khác nắm được thóp. Nhớ lấy.”
Ta chớp mắt, gật đầu. Rồi ta hỏi ông có chịu ăn cơm không.
Cha không trả lời ngay. Một lúc sau, ông bảo nhà bếp mang thêm một đôi đũa.
Bữa ấy ông chỉ ăn được vài miếng.
Hôm sau, trong phòng vẫn còn mùi rượu. Hôm sau nữa, ông lại không chịu mở cửa.
Ta ngồi ngoài hiên ăn bánh, đợi đến khi bánh nguội hết mới nghe tiếng ông hỏi vọng ra.
“Sao còn chưa đi?”
“Tổ mẫu bảo người một nhà phải cùng nhau ăn cơm.”
Trong phòng yên lặng.
Cuối cùng, cửa mở.
Cha không khỏe lại ngay. Có đêm ta đi ngang qua sân, vẫn nghe ông gọi tên người đã khuất. Tổ mẫu mời thầy thuốc đến, người hầu dọn bớt những vò rượu, còn ta, ngày nào cũng bưng bát của mình đến trước cửa.
Một tháng sau, lần đầu tiên ông bước ra sân luyện võ.
Ta ngồi trên bậc thềm nhìn đến quên cả nhai.
Ông múa xong một đường đao, quay sang hỏi: “Nhìn gì?”
“Cha đứng thẳng lên trông cao hơn hẳn.”
Ông bật cười, rất khẽ. Đó là lần đầu tiên ta nghe ông cười.
Cha đặt đao xuống, bế bổng ta lên. Ta khỏe, nhưng người lại chẳng lớn. Ông xốc xốc mấy cái, nhíu mày: “Sao gầy thế này?”
Ta nhìn ông hồi lâu: “Cha, cha khỏe rồi à?”
Cha vỗ nhẹ vào mông ta một cái: “Khỏe rồi.”
Rồi cha đi bái kiến tổ mẫu. Hai người không biết nói những gì, chỉ thấy tổ mẫu nước mắt giàn giụa.
Ta thở phào một hơi. Tổ mẫu vui rồi, ta lại có thể thoải mái ăn thịt rồi.
Cha búi tóc gọn gàng dưới ngọc quan, cạo sạch râu, trông vô cùng dễ nhìn. Còn đẹp hơn cả anh đẹp trai nhất làng.
Cha khỏe rồi, nhưng lại hóa xấu.
Ông mời về một loạt ma ma dạy lễ nghi, bảo ta phải học quy củ của con nhà thế gia. Ngồi cũng không thoải mái, đứng cũng không thoải mái, đến nằm cũng có phép tắc. Ta không lọt tai lấy một chữ, các bà liền đi mách tổ mẫu và cha.
Tổ mẫu xoa đầu ta: “Cha con không hại con đâu. Con gái trên đời này ai rồi cũng phải lấy chồng. Lấy được chồng tốt mới có chốn về tốt. Ông ấy là đang tính cho tương lai của con đấy.”
“Lấy chồng là gì ạ?”
Tổ mẫu ngẩn ra. Cha lại đáp trước: “Lấy chồng là đến một nhà khác.”
Ta không hiểu: “Nhưng con có nhà rồi mà.”
Cha nói: “Không giống nhau. Lấy chồng là về nhà người mình thích, trở thành một phần của nhà người ta.”
Ta vỗ tay: “Vậy để người con thích về nhà mình, trở thành một phần của nhà mình là được rồi.”
Tổ mẫu há miệng, cuối cùng chẳng nói được gì, chỉ niệm: “A Di Đà Phật.”
Cha nhìn ta, cũng không nói gì. Hồi lâu sau, có lẽ ông nghĩ thông rồi, bèn nói: “Cũng được.”
Về sau, đám ma ma dạy lễ nghi đều đi hết. Ta lại tự do tự tại.
Ta vẫn thích sang chỗ cha. Sáng nào cha cũng dậy sớm luyện một thanh trường đao, múa vù vù như hổ. Ta bảo ông dạy ta. Ông không chịu, nói đó là đồ của đàn ông.
Ta xông lên đánh với cha một trận. Cha khó đánh hơn dã thú nhiều. Cuối cùng ông xách cổ áo ta, ném ra ngoài viện.
Cha vẫn không dạy ta, nhưng cũng không ngăn ta nữa. Thỉnh thoảng còn chỉ điểm vài câu.
Người của nhị phòng và tam phòng thỉnh thoảng vẫn đến phủ. Ta nghe họ lén cười, bảo ta là đứa con gái nhà quê thô lỗ, mời bao nhiêu ma ma dạy dỗ đều bị chọc tức bỏ đi, suốt ngày chỉ muốn múa đao múa gậy.
Họ khuyên tổ mẫu nhận con của họ làm con thừa tự. Ta không hiểu, sao lại có người không cần con của chính mình, giống như cha mẹ chẳng biết là ai của ta vậy.
“Mẫu thân không chịu nhận Ninh Ninh, vì Ninh Ninh là con gái. Nhưng bên cạnh người không thể không có ai hầu hạ. Chi bằng để Thụy nhi đến phủ tướng quân, hầu hạ mẫu thân.”
Thụy nhi chính là đứa bị ta vặn tay hôm ấy.
Tổ mẫu không đồng ý. Họ lại nói: “Tước vị của phủ tướng quân sớm muộn cũng phải có người kế thừa. Đại ca bây giờ chết cũng không chịu nạp thiếp, mẫu thân cũng không nghĩ cho chi thứ chúng con một chút. Con nhóc Tiêu Nguyệt kia biết cái gì? Chữ to bằng cái đấu cũng không biết, thô lỗ quê mùa, huống hồ nó còn là con gái. Mẫu thân cũng phải nghĩ cho cả nhà họ Tiêu chứ.”
Nhưng cha vừa đến, họ liền không dám to tiếng nữa.
Nghe nha hoàn kể, Tiêu gia cả nhà trung liệt. Từ đời cha của tổ phụ đã được phong làm Trấn Quốc đại tướng quân. Cha vừa là trưởng nam, vừa là người xuất sắc nhất trong lớp con cháu họ Tiêu bây giờ.
Mười sáu tuổi ra chiến trường, kế thừa tước vị của phụ thân, lập vô số chiến công, bị người Đột Quyết gọi là Ngọc Diện Sát Thần. Hoàng đế cùng ông lớn lên, tình như thủ túc, đối với ông rất mực ưu ái.
Vốn dĩ tiền đồ rộng mở, nào ngờ phu nhân tướng quân khó sinh mà mất, một xác hai mạng. Cha cắt tóc thề cả đời không lấy vợ nữa, rồi từ đó suy sụp không gượng dậy nổi.
Nhị phòng và tam phòng bắt đầu có tính toán riêng, muốn đưa con mình sang làm con thừa tự của cha, để sau này kế thừa phủ tướng quân. Cha đều không nhận.
Nhị phòng và tam phòng làm ầm lên. Cha mời các vị tộc lão đến, ép họ ghi tên ta vào gia phả trong từ đường họ Tiêu. Ông nói, đời này ông chỉ có một mình ta là con gái, sau này chỉ nhận rể ở rể.
Nhị phòng và tam phòng đều chết lặng.
Nghe tin cha đã khỏe, lại còn nhận một đứa con gái, hoàng đế rất vui, nói muốn mở tiệc mừng cho ông.
Hôm ấy, ma ma mặc cho ta một bộ y phục rườm rà, đưa ta lên xe ngựa. Cha nhìn ta, buông một câu: “Thế này mới có chút dáng dấp tiểu thư khuê các.”
Ta nhìn cha từ đầu đến chân: “Cha cũng không tệ.”
Cha mím khóe môi, cuối cùng chỉ quay mặt đi.
Chúng ta vào hoàng cung. Nơi này bề thế hơn phủ tướng quân nhiều, người ta ăn mặc cũng hoa cả mắt. Cha nắm chặt tay ta, chỉ sợ ta lỡ va phải ai. Nhưng trong yến tiệc người đông quá, cha bận nói chuyện, ta cứ cúi đầu nhìn mũi giày mình.
Giữa sảnh, một đám vũ cơ đang uyển chuyển múa. Cho đến khi một người mặc áo vàng sáng đi tới. Đôi ủng của người ấy dừng ngay trước mặt ta.
“Tiêu Khởi, đây là con gái khanh à?”
Cha quỳ xuống, kéo ta quỳ theo.
“Trông cũng xinh xắn, lại có mấy phần giống khanh. Không tệ.”
Hoàng thượng khen ngợi, hai người nói chuyện với nhau. Ta nghe không hiểu, chỉ mải đếm nhịp bước chân của đám vũ cơ.
Đột nhiên, bước chân một vũ cơ đổi khác. Mũi chân nàng ta hướng về phía này, mỗi lúc một nhanh.
Ta ngẩng đầu. Một con dao găm lóe hàn quang đang đâm thẳng vào mặt hoàng đế.
Ta không kịp nghĩ gì, hai tay chộp lấy mũi dao.
Máu men theo lưỡi dao chảy xuống. Vũ cơ muốn rút dao ra, nào ngờ sức ta lớn như vậy. Ả bị ta giữ chặt, không nhúc nhích nổi.
Cha biến sắc, rút bội kiếm bên hông, kéo ta ra sau lưng, quát lớn: “Hộ giá!”
Cả sảnh tiệc hỗn loạn.
Không biết qua bao lâu, thị vệ bắt một nhóm người trong yến tiệc, áp giải đi. Hoàng đế nhìn ta đầy hứng thú.
“Con nhóc này gan lớn thật. Tên là gì?”
Ta học theo dáng cha, quỳ xuống dập đầu: “Dân nữ Tiêu Nguyệt.”
Hoàng đế nhìn đôi tay chảy máu của ta: “Người đâu, truyền thái y. Phải dùng thuốc tốt nhất, bảo đảm không để lại sẹo.”
Thái y tỉ mỉ băng bó vết thương, quấn tay ta tròn như hai cái bánh ú.
Cha đang định dẫn ta lui ra, hoàng đế lại lên tiếng: “Tiêu Khởi, trẫm muốn để Tiêu Nguyệt vào cung làm bạn đọc cho các hoàng tử hoàng nữ. Ý khanh thế nào?”
Cha quỳ trên đất hồi lâu mới dập đầu: “Tạ chủ long ân.”
Người ta bảo được hoàng đế ban thưởng là vinh hạnh lớn lao. Nhưng cha trông chẳng vui chút nào. Ông nói với ta một câu: “Gần vua như gần hổ.”
Ta nói: “Hổ con cũng đánh được.”
Cha lại lộ ra cái vẻ mặt cạn lời ấy.
Vết thương của ta lành rất nhanh, chẳng bao lâu đã khỏe như vâm. Trước khi ta vào cung, cha dẫn ta đến quân doanh, còn mua cho ta một bộ y phục mới.
Ta vui lắm. Bộ đồ mới có dây buộc tay áo, lại được mặc quần. Đi săn mà mặc bộ này thì tuyệt.
Cha nhấc bổng ta đặt lên lưng ngựa, ông ngồi phía sau. Đó là lần đầu tiên ta cưỡi ngựa. Ngựa cao như vậy, người trên phố hóa nhỏ xíu. Gió vù vù thổi qua mặt, dễ chịu vô cùng.
Ta theo cha đến giáo trường. Ở đó có rất nhiều binh lính, ai thấy cha cũng gọi tướng quân.
Có người hỏi: “Tướng quân, cô bé này ở đâu ra vậy?”
Cha nói: “Con gái ta.”
Mặt các tướng sĩ đều lộ vẻ kinh ngạc.
Cha ra hiệu cho ta: “Tiêu Nguyệt, đi cầm cây cung kia lên.”
Ta nhìn quanh giáo trường, bước tới nhấc cây cung lên nhẹ tênh. Xung quanh vang lên những tiếng hít hà.
Cây cung ấy còn cao hơn cả người ta, là cung của cha. Ông chỉ vào tấm bia xa xa.
Ta tiện tay rút một mũi tên, giương cung. Phó tướng của cha cuống quýt kêu lên: “Không được! Cung này lực kéo ít nhất một trăm hai mươi cân!”
Lời còn chưa dứt, mũi tên trong tay ta đã xé gió bay đi, cắm ngay hồng tâm.
Đám binh sĩ xung quanh đều tròn mắt.
Cha nhìn ta, im lặng thật lâu.
“Tiêu Nguyệt, ban ngày con vào cung làm bạn đọc, ban đêm phải đến giáo trường luyện tập. Con là truyền nhân duy nhất của ta, đã đến lúc học võ nghệ Tiêu gia rồi.”
Ban ngày ta vào cung, ban đêm ở giáo trường. Nhưng ta không thấy khổ, cũng chẳng thấy mệt. So với đánh nhau cùng hổ báo gấu đen thì thế này nhẹ nhàng hơn nhiều.
Có lần ta đánh nhau với một con gấu đen. Nó to quá, đuổi ta từ sáng đến tối. Ta chém nó không biết bao nhiêu nhát, nó mới chịu chết. Nó chết, ta cũng ngất đi, hai ba hôm sau mới tỉnh lại trong nhà ông lý trưởng. Ông bảo ta mạng lớn, suýt nữa là chết rồi.
Ta nhìn con gấu to ấy, lại thấy mãn nguyện. Lại có thịt ăn rồi.
Ở giáo trường, cái gì ta cũng thấy mới lạ. Cha dạy ta nhận biết các loại binh khí, dẫn ta thao luyện. Người mệt rã rời, nhưng trong lòng lại đầy ắp, căng phồng. Ngày nào cha cũng bế ta, người mệt gần chết, về nhà. Có hôm tỉnh dậy, ta thấy mình đang nằm trong lòng cha.
Ta nghĩ, thảo nào ai cũng muốn có cha có mẹ.
Nhiều binh lính ở giáo trường không về nhà, cứ ở luôn trong doanh. Họ còn vất vả hơn ta, từ sáng đến tối luyện không ngừng. Có khi nửa đêm bị cha gọi dậy đột ngột, không cho ngủ. Ai đến muộn còn bị cha phạt.
Ta hỏi cha: “Họ vất vả như vậy là để được ăn thịt sao?”
Cha xoa đầu ta: “Họ vất vả là để bách tính được ăn thịt. Bách tính chính là người trong thiên hạ.”
Cha đã dạy ta như thế. Nhưng ông lý trưởng bọn họ còn chưa được ăn thịt kia mà. Có khi năm sáu ngày mới được một bữa.
Làng của chúng ta ở phương bắc, trên núi thú dữ nhiều lắm, nhưng người trong làng chẳng ai bỏ đi. Ông lý trưởng từng kể, xa hơn về phía bắc có người Đột Quyết. Những chỗ đất tốt đều bị bọn họ chiếm cả. Chỗ này thú dữ nhiều, người Đột Quyết không dám tới. Đó là nơi người trong làng phải tìm rất lâu mới có được.
Vậy thì sau này đợi cha đánh lui người Đột Quyết, ai ai cũng được ăn thịt rồi.
Ta nói: “Cha, cha là người cha tốt.”
Cha nói với ta, trong cung là nơi ăn thịt người không nhả xương. Đắc tội bất kỳ một vị hoàng tử hay hoàng nữ nào cũng có thể mất mạng. Ông không dám đánh cược, nên muốn ta học võ cho giỏi để tự bảo vệ mình.
Cái gọi là bạn đọc, chẳng qua là cùng các hoàng tử hoàng nữ đọc sách. Con cái của nhiều triều thần cũng ở đó.
Hoàng đế đang độ tráng niên, dưới gối có chín hoàng tử hoàng nữ, sáu trai ba gái. Những người cùng lứa tuổi, cũng là những người ta làm bạn đọc, có tứ hoàng nữ, ngũ hoàng tử, lục hoàng tử và thất hoàng tử.
Tứ hoàng nữ xinh đẹp rực rỡ. Ngũ hoàng tử ôn hòa lương thiện. Lục hoàng tử to khỏe. Còn thất hoàng tử…
Ngày đầu tiên ta đến, lục hoàng tử chiếm chỗ ngồi của thất hoàng tử. Thất hoàng tử không cãi không làm ầm, chỉ lặng lẽ lùi xuống hàng cuối cùng.
Thái phó bảo chúng ta chép văn, rồi sang Hàn Lâm viện xử lý công vụ. Thấy thái phó vừa đứng dậy, lục hoàng tử liền hất mực lên bài văn thất hoàng tử vừa chép xong.
“Hừ, chép lại một bản đi. Chép luôn cả phần của ta. Nếu không xong, ta lột da ngươi.”
Lục hoàng tử bỏ đi. Thất hoàng tử lặng lẽ lau vết mực trên bàn, lấy giấy mới, bắt đầu chép lại.
Những người khác lạnh lùng đứng ngoài, đầu cũng chẳng ngẩng lên, như thể chuyện này đã xảy ra rất nhiều lần.
Nửa canh giờ sau, thái phó quay về. Chúng ta lần lượt nộp bài. Đến lượt thất hoàng tử, tay hắn trống trơn.
Thái phó hỏi: “Bài của điện hạ đâu?”
Thất hoàng tử cụp mắt không nói. Thái phó nhíu chặt mày, lấy thước phạt ra. Lục hoàng tử đứng đó hả hê nhìn hắn.
Ta đứng dậy: “Bài lục hoàng tử vừa nộp là do thất hoàng tử chép giúp. Lục hoàng tử không chép, lại còn ra ngoài chơi.”
Giọng ta không lớn không nhỏ, vừa đủ để thái phó nghe rõ mồn một. Lục hoàng tử trợn mắt muốn rách khóe, quay lại trừng trừng nhìn ta.
Thái phó hỏi thêm mấy bạn đọc khác, thấy ai cũng ấp a ấp úng thì đã hiểu. Ông quở trách lục hoàng tử mấy câu, phạt hắn chép lại, rồi rời đi.
Thái phó vừa đi, lục hoàng tử đã xông tới trước mặt ta: “Ngươi là cái thá gì, dám mách thái phó?”
Ta nhìn thẳng vào hắn: “Đồ nhát gan, dám làm không dám nhận.”
Thất hoàng tử đứng đằng xa nhìn sang, môi mấp máy, cuối cùng vẫn khép lại.
Lục hoàng tử ngang ngược trong cung quen rồi, chưa từng chịu cục tức nào như vậy, vươn tay định túm áo ta. Ta nghiêng người né. Hắn lại vung nắm đấm tới.
Tóm lại, qua lại mấy hiệp, lục hoàng tử bị ta đánh cho mặt mũi bầm dập, ngồi bệt xuống đất khóc lóc chẳng còn ra thể thống gì.
Ta kéo hắn sang một bên, cảnh cáo: “Ngươi mà dám về mách mẫu phi, mẫu phi ngươi sẽ đi mách hoàng thượng. Đến lúc đó, phụ hoàng ngươi sẽ không thích ngươi nữa đâu.”
Lục hoàng tử trợn mắt, quên cả khóc.
Lục hoàng tử vẫn đi mách. Mẹ hắn là quý phi. Nghe nói hắn khóc lóc thảm thiết trước mặt hoàng đế.
Cha quỳ trước Ngự thư phòng suốt một canh giờ để tạ tội thay ta. Về nhà, ông không đánh ta, chỉ phạt ta quỳ chép sách đến nửa đêm, rồi nói: “Ngày mai vào cung, con đến xin lỗi lục hoàng tử.”
Ta không thoát được cái phận bạn đọc. Mấy hôm sau, ta lại vào cung.
Lục hoàng tử thấy ta, vẻ đắc ý trong mắt giấu cũng không giấu nổi.
Ta nghe lời cha, bước tới cung kính hành lễ, xin lỗi hắn.
Lục hoàng tử tiểu nhân đắc chí, cũng không nói tha thứ, cứ để ta đứng đó. Ta không giận, cứ đứng chờ.
Đến khi thái phó sắp tới, hắn mới ác ý nói: “Con nhóc chết tiệt, muốn ta tha thứ à? Nằm mơ đi.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn, mấp máy môi hai chữ: đồ hèn.
Hắn bật dậy, giận quá hóa thẹn định đánh ta. Thái phó quát “Yên lặng!”, hắn mới không làm gì được, chỉ buông một câu: “Tan học đừng có đi!”
Ta quả thật không đi.
Lục hoàng tử đuổi hết đám thái giám đi, định dạy cho ta một bài học ra trò. Hắn lao vào ta trước. Ta kéo hắn ra sau hòn non bộ, đánh cho một trận, rồi lách ra từ phía bên kia.
Lúc ra ngoài, ta đụng phải thất hoàng tử. Hình như hắn đã đứng nghe từ lâu. Hồi lâu sau, hắn mới nói với ta một câu: “Cảm ơn.”
Ta ngơ ngác chẳng hiểu gì. Ta đánh lục hoàng tử là vì hắn ra tay với ta trước, thì liên quan gì đến thất hoàng tử?
Lục hoàng tử lại giở trò cũ, đi mách. Nhưng lần này không ai thấy ta đánh hắn, lại là hắn tự đuổi hết thái giám đi để gây sự với ta. Hắn có miệng mà không cãi được.
Cha nói quả không sai. Đừng để kẻ khác nắm được thóp.
Lục hoàng tử ngốc quá. Chắc là cha hắn dạy không tốt. Chỉ biết tức đến chảy nước mắt, mà không biết phản đòn thế nào. Đương nhiên, có muốn phản đòn cũng đánh không lại.
Từ đó, hắn thấy ta là đi đường vòng.
Thất hoàng tử bắt đầu chuyển sang ngồi cạnh ta, còn giúp ta làm bài. Chỗ nào ta nghe không hiểu, hắn kiên nhẫn giảng đi giảng lại mấy lần, đến khi ta hiểu mới thôi. Không giống cha, dạy ta mấy lần là nổi cáu. Hắn chưa bao giờ nổi giận. Người cũng tốt ghê.
Ta nghe thái giám kể, hắn thường không được ăn no, bèn hay mang đồ ăn ở nhà vào cho hắn. Chẳng mấy chốc, chúng ta đã thành huynh đệ tốt.
Cũng từ năm ấy, lần đầu tiên cha cho ta xem bản đồ. Ta chỉ ngay vào con đường gần nhất.
“Đi đường này nhanh hơn.”
“Ba nghìn người cùng đi sao?”
Ta gật đầu. Ông hỏi tiếp: “Xe lương qua đâu? Ngựa uống nước ở đâu? Nếu trời mưa, con đường ấy có đi được không?”
Ta không đáp nổi.
Cha cuộn bản đồ lại, đặt bên cạnh thanh đao của ta: “Một mình con có thể trèo núi. Quân lính không thể bỏ xe lương mà trèo theo.”
Từ hôm ấy, ngoài giờ học trong cung, ta còn phải học thêm binh thư. Những ngày đến quân doanh, ta phải xem sổ lương, nghe các đội trưởng báo việc.
Có một lần ta tính sai, để thiếu phần gạo của cả một đội trong bài tập cha giao. Ông không đánh, chỉ bảo ta ngồi tính lại. Tính đến tối, ta bắt đầu thấy những con số ấy đáng sợ hơn cả hổ.
Thất hoàng tử hỏi vì sao dạo này ta bỗng chăm học như vậy.
Ta giơ mấy ngón tay đầy vết mực cho hắn xem: “Không học, sau này người của ta sẽ phải nhịn đói.”
Hắn nhìn ta một lúc, rồi kéo ghế lại gần, giúp ta đọc nốt trang sách.
Chẳng bao lâu đã đến mùa săn xuân. Hoàng gia mở bãi săn, khoanh cả một vùng rừng rộng. Các hoàng tử và bạn đọc đều phải đi theo.
Ta mặc bộ đồ cưỡi ngựa cha mới mua, còn dắt theo một tên tiểu đệ là thất hoàng tử. Thất hoàng tử không có mẹ, hoàng đế cũng không thích hắn, nên chẳng ai chuẩn bị ngựa cho hắn.
Đã là huynh đệ thì còn nói gì nữa. Ta cho hắn cưỡi chung một ngựa.
Hắn lúc nào cũng lầm lì ít nói, nhưng đôi mắt lại toát lên vẻ trầm tĩnh.
Vào đến bãi săn, ta như cá gặp nước, cứ như được quay về những ngày ở trong núi. Tên của ta trăm phát trăm trúng, thường xuyên bắn xuyên qua con mồi. Thất hoàng tử đi phía sau nhặt chiến lợi phẩm, ngựa chở sắp không nổi nữa.
Ta đang ngâm nga hát, chợt nghe phía trước vang lên tiếng thú gầm.
Ta vội thúc ngựa lao tới. Thất hoàng tử lại giữ chặt dây cương: “Đừng đi.”
Từng đợt tiếng thét chói tai vang lên, làm bầy quạ trong rừng bay tán loạn. Ta giật lại dây cương, không nói không rằng lao thẳng tới.
Phía trước là một con hổ khổng lồ, to hơn tất cả những con ta từng săn.
Ngũ hoàng tử, lục hoàng tử, tứ hoàng nữ đều ở gần đó. Thị vệ của họ chẳng biết đi đâu mất, ngựa cũng hoảng sợ chạy hết. Mấy người mình mẩy đầy bụi đất, ngã sõng soài trên mặt đất, sắp bị mãnh hổ nuốt chửng đến nơi.
Ta giương cung nhắm vào mắt con hổ. Vút, vút, hai mũi tên bắn xuyên đôi mắt nó.
Con hổ mất đi thị lực, nổi điên lên, giẫm đạp loạn xạ. Ta bắn thêm hơn chục mũi tên nữa, mũi nào cũng trúng chỗ hiểm. Cuối cùng, con hổ đổ gục xuống, không động đậy nữa.
Ta nhảy xuống ngựa, đưa tay sờ bộ lông hổ, rút con dao găm bên hông định lột lấy bộ da.
“Đa tạ…”
Mấy vị hoàng tử hoàng nữ đã dìu nhau đứng dậy, mặt cắt không còn giọt máu. Đây là lần đầu tiên họ không hếch mũi lên nhìn người khác.
Lục hoàng tử càng tròn mắt kinh ngạc nhìn ta: “Suýt nữa thì ta thành hồn ma dưới móng con súc sinh này. Ngươi vậy mà săn được hổ. Ngươi đúng là một con quái vật sức khỏe!”
Ta gật đầu nhận lời khen ấy: “Ta sinh ra đã khỏe như vậy. Ngươi có ghen tị cũng không được đâu.”
Lục hoàng tử trợn trắng mắt: “Không phải đang khen ngươi!”
Đằng xa vọng lại tiếng vó ngựa. Một đội cấm quân phi tới, đưa mấy vị hoàng tử hoàng nữ đang hoảng hồn đi.
Thất hoàng tử đứng phía sau ta, ánh mắt tối tăm khó đoán.
Sau cuộc săn hổ, ta hỏi thất hoàng tử, vì sao lúc nghe tiếng kêu cứu, hắn lại giữ cương ngựa.
Hắn cúi đầu, xoa vết xước trên ngón tay.
“Ta sợ.”
Ta không cười hắn. Người từng suýt bị gấu giết như ta biết sợ hãi là thế nào.
Nhưng hắn hỏi tiếp: “Nếu hôm ấy ngươi không tới, liệu phụ hoàng có nhớ đến ta không?”
Ta ngừng tay lau cung.
Hắn lập tức cười, nói chỉ thuận miệng hỏi vậy thôi.
Hoàng đế lại ban thưởng cho ta, còn nói nếu ta là nam tử, ắt sẽ làm nên đại nghiệp.
Mấy vị hoàng tử hoàng nữ học cùng cũng bắt đầu nói chuyện với ta. Đến lúc ấy ta mới biết, tứ hoàng nữ, ngũ hoàng tử và lục hoàng tử là con cùng một mẹ. Tứ hoàng nữ và ngũ hoàng tử còn là song sinh. Trước kia họ không thích chơi với lục hoàng tử, chê hắn ngốc, đến chuyện hắn bị ta đánh cũng chẳng phản ứng gì.
Nhưng từ sau vụ săn hổ, lục hoàng tử sống chết đòi làm tiểu đệ của ta. Hắn bảo hắn cũng muốn học săn hổ.
Ta nhìn hắn: “Đầu óc với lá gan như ngươi mà săn được hổ, thì heo cũng leo được cây.”
Nhưng cuối cùng ta vẫn miễn cưỡng nhận hắn. Hắn hay mang đủ thứ thịt cho ta ăn. Ăn của người ta thì khó mà từ chối.
Dưới sự hòa giải của ta, lục hoàng tử và thất hoàng tử cũng làm lành, có thể ngồi chung một bàn viết chữ.
Nhưng từ khi ngồi cạnh thất hoàng tử, lục hoàng tử hay bị nhức đầu sổ mũi, không học hành tử tế được, bị thái phó mắng là gỗ mục không thể đẽo. Ta học cũng kém, với hắn lại có chút đồng cảnh tương lân.
Ta không biết nguyên do, cũng chẳng có chứng cứ gì để trách ai. Chỉ có một lần, ta thấy thất hoàng tử lặng lẽ đẩy chén trà của mình sang chỗ khác, trước khi đổi bàn.
Ta nhìn chén trà ấy thêm một lúc, rồi thôi.
Những chuyện nhỏ như vậy chưa đủ để ta coi hắn là kẻ thù. Hắn vẫn là người kiên nhẫn giảng bài cho ta, nhớ món ta thích ăn, giữ lại cả những lá thư ta viết sai chữ.
Nhưng từ đó, ta không còn nghĩ người ít nói thì nhất định chẳng giấu điều gì.
Ngày tháng trôi nhanh, ta cũng tròn mười hai tuổi.
Một hôm, lục hoàng tử bỗng ghé sát lại, mặt đỏ bừng: “Phụ hoàng nói sắp chọn lục hoàng tử phi cho ta.”
Ta “ồ” một tiếng, chẳng có phản ứng gì.
Hắn như đã hạ quyết tâm lớn lắm mới mở miệng: “Ngươi… ngươi có bằng lòng không?”
Ta đã mười hai tuổi, được dạy dỗ trong cung ba năm, không phải không hiểu ý hắn.
Ta hỏi: “Ngươi chịu làm rể ở rể à?”
Lục hoàng tử sững ra, rồi nổi cáu: “Ta là hoàng tử, sao có thể ở rể được!”
Ta lắc đầu: “Vậy chúng ta không hợp.”
Lục hoàng tử há miệng rồi lại ngậm, lời nghẹn nơi cổ họng, không biết đáp ta thế nào.
Mấy năm này, dưới sự dạy dỗ của cha, ta ngày càng mạnh mẽ, mười tám ban võ nghệ đều tinh thông. Con mãnh hổ năm ấy phải hơn chục mũi tên mới hạ được, bây giờ ta chỉ cần một mũi là trúng ngay chỗ hiểm.
Ta cũng dần nhận ra những điều khác thường.
Có lần hoàng đế kể chuyện thời trẻ với cha. Khi ấy ông ta gọi thẳng tên cha, cười rất tự nhiên. Cha cũng cười. Ta tưởng hai người thân thiết lắm, bèn hỏi sao lần nào vào cung cha cũng dặn ta phải cẩn thận. Ông chỉ bảo, lớn lên con sẽ hiểu.
Quân doanh xin thay áo bông, tờ trình bị giữ lại suốt một mùa đông. Cha mang về một chiếc áo bông rách của lính, trải lên bàn rất lâu mà không nói gì. Tướng sĩ lập công, người được cử đến nhận ban thưởng lại là một viên quan chưa từng ra biên ải.
Trong phủ xuất hiện thêm mấy người làm mới. Họ ít hỏi chuyện bếp núc, lại rất để ý những ai đến tìm cha. Tổ mẫu đổi người giữ thư phòng. Cha cất những bức thư cũ vào hòm, không còn đọc trước mặt ta nữa.
Một đêm, ta nghe cha nói với tổ mẫu.
“Bệ hạ sợ con muốn thứ mà con chưa từng muốn.”
“Vậy con có thể giao binh quyền không?”
Cha im lặng một lúc: “Người đến thay lần trước không phân biệt nổi đường vận lương với đường hành quân. Con giao rồi, dân ở đó phải làm sao?”
Ta đứng ngoài cửa, lần đầu hiểu rằng có những chuyện không thể giải quyết bằng việc chứng minh mình ngoan ngoãn.
Ta cũng ngày càng rõ, mình không muốn sống những ngày như tổ mẫu.
Chồng của tổ mẫu, cũng là cha của cha, mất sớm. Bà chỉ có một người con trai là cha. Gia quy họ Tiêu cùng lệ của triều ta khắt khe với góa phụ nhà tướng, tộc nhân lại dòm ngó tước vị, bà không thể tái giá.
Bà nuôi cha khôn lớn. Cha cũng có quan chức của riêng mình. Sứ mệnh làm mẹ của bà đã xong, nhưng bà không thể đi đâu cả. Bà chỉ có thể ở lại hậu viện này, gánh vác cả phủ tướng quân rộng lớn.
Ta là đứa trẻ được nhặt về, vậy mà tổ mẫu vẫn dạy ta đạo trông coi nhà cửa. Bà nói, đợi ta đến tuổi, nhất định sẽ chọn cho ta một phu quân thật tốt, gia thế nhân phẩm đều thượng hạng.
Ta cũng nghĩ như vậy. Tìm một người đàn ông về hầu hạ ta. Ta theo cha đi đánh trận, hắn ở nhà lo liệu việc nhà. Ta nhất định không bạc đãi hắn.
Năm ta mười sáu tuổi, người Đột Quyết lại ồ ạt xâm phạm biên cương. Cha thu xếp hành trang chuẩn bị ra biên ải.
Khi ấy ta đã thôi làm bạn đọc trong cung từ lâu. Cha tâu với hoàng đế, con gái lớn rồi mà cứ ở mãi trong cung thì không hay.
Trước khi đi, cha đưa cho ta một xấp tranh vẽ chân dung, bảo ta nên xem mặt phu quân rồi. Tổ mẫu cũng tươi cười nhìn ta: “A Nguyệt lớn rồi, đến lúc lấy chồng rồi.”
Ta chớp mắt, vâng dạ. Quay lưng một cái liền ném hết xấp tranh vào lò lửa, thu dọn ít đồ đạc, lẳng lặng bám theo cha lên phương bắc.
Ta đã mười sáu tuổi, đúng cái tuổi hừng hực chí lớn. Ta muốn tự giành lấy ít quân công, để sau này phủ tướng quân khỏi oán trách chuyện ta kén rể.
Cha nhìn thấy ta trong quân doanh, suýt nữa thì tức ngất. Ông xổ một tràng mắng ta suốt một canh giờ. Mắng xong, ta hỏi ông: “Con ngủ ở đâu?”
Cuối cùng ông cũng chịu thua, bất lực thở dài, lẩm bẩm: “Cũng được. Con nên sớm mở mang tầm mắt, để dứt cái ý nghĩ ấy đi.”
Cha phái thêm mấy binh sĩ trông chừng ta, rồi tự mình dẫn quân ra khỏi cổng thành.
Hồi nhỏ ta từng thấy người Đột Quyết. Bọn họ mặt mũi thô kệch, lông tóc rậm rạp, thân hình cũng vạm vỡ hơn người Trung Nguyên.
Đây là lần đầu tiên ta nhìn thấy chiến trường. Đầu lâu, tay chân đứt lìa, nội tạng, máu tươi văng tung tóe. Ở nơi này, người và dã thú chẳng khác gì nhau.
Đã lâu lắm rồi ta không giết dã thú. Từ sau cuộc săn năm ấy, cha cấm ta tham gia bất cứ cuộc săn nào. Ông nói những cuộc tranh đấu giữa các hoàng tử hoàng nữ, chúng ta không được dính vào.
Cảnh tượng trước mắt như địa ngục trần gian. Ta đứng trên tường thành, không biết phía mình chết bao nhiêu người, cũng không biết người Đột Quyết chết bao nhiêu.
Cha cầm trường thương xông lên trước nhất. Mặt ông gần như đẫm máu, không còn nhìn rõ hình dáng.
Người Đột Quyết thâm hiểm. Nhân lúc cha sơ ý, chúng chém gãy chân ngựa của ông, thuận thế đâm ông một kiếm. Cha ngã nhào xuống ngựa.
Ta biến sắc, mặc kệ binh sĩ ngăn cản, lao xuống tường thành, cướp một con ngựa xông thẳng vào trận địch.
Người Đột Quyết đang định hạ sát thủ với cha, các tướng sĩ bên cạnh liều mạng cản lại. Ta vươn tay vớt cha lên ngựa mình. Trường đao từ trên trời giáng xuống, chém bay đầu tên Đột Quyết dẫn đầu.
“Muốn chết! Chủ tướng ở đây! Phá vòng vây!”
Ta giơ cao trường đao, hét lớn: “Các tướng sĩ, theo ta xung phong!”
Đao giơ lên hạ xuống, ta chém giết vô số người Đột Quyết dọc đường. Sĩ khí đại chấn.
Ta cứ thế mang theo cha, đánh thẳng đến trước mặt chủ tướng quân địch, dồn sức phóng mạnh trường đao. Lưỡi đao cắm thẳng vào cổ họng hắn. Hắn không kịp kêu một tiếng, ngã nhào xuống ngựa mà chết.
Quân ta đại thắng.
Đợi cha tỉnh lại, ta cứ ngỡ sẽ được ông khen. Nào ngờ thứ chờ ta là trận trách mắng nặng nề nhất ta từng nghe.
Ông giận ta một mình xông vào chiến trường, giận ta phô trương thanh thế.
“Từ hôm nay, con về phủ tướng quân cấm túc, không được bước ra ngoài nửa bước, cho đến khi xuất giá.”
Cha giấu nhẹm chuyện ta giết tướng Đột Quyết trên chiến trường, ra lệnh cho toàn quân trên dưới phải giữ kín miệng.
Trước khi đưa ta về kinh, cha nói với ta: “A Nguyệt, phủ tướng quân đã quá nổi bật rồi, không thể khiến hoàng đế cảnh giác thêm nữa. Cha dạy con võ công, dạy con cưỡi ngựa bắn cung, không phải để con giống như nam tử, mà chỉ để con có thể tự bảo vệ mình. Con hiểu không?”
Cây cao hơn rừng, gió ắt quật đổ.
Ta nhớ lại hồi mới đến phủ tướng quân. Nỗi đau mất vợ con của cha là thật. Chỉ là sau khi gượng dậy, ông cố tỏ ra không màng quyền thế, để hoàng đế yên lòng.
Tiêu gia có danh vọng rất lớn trong lòng bách tính, thậm chí ngầm vượt cả hoàng thất. Ngoài phố lời đồn rất nhiều. Hoàng đế từ lâu đã sinh nghi. Ngay cả việc sau này hoàng đế cho đứa con nuôi là ta vào cung, cũng là để giữ ta làm con tin.
Cha đã nhìn thấy tòa nhà cao của phủ tướng quân sắp sụp. Ông muốn giữ lấy Tiêu gia, muốn gả ta đi, còn muốn ở lại biên ải đến chết.
Đó là lần cuối cùng ta nhìn thấy cha.
Bạn đang nghe truyện tại Chà Chà Audio. Chúc bạn nghe truyện vui vẻ.
Ba tháng sau, Tiêu Khởi tử trận.
Ông bị người Đột Quyết phục kích trong một khe núi. Toàn bộ tinh nhuệ Tiêu gia quân theo ông không một ai sống sót trở về.
Phủ tướng quân treo khăn tang trắng. Gương mặt tổ mẫu hằn đầy sương gió. Đời bà đã trải qua ba lần tang tóc. Cha chồng chết, chồng chết, con trai chết. Họ đều là trung liệt của Tiêu gia, đều chết nơi sa trường.
Cha liên tục xin viện binh, người Đột Quyết lại đánh tới ngày càng dồn dập. Viện binh của triều đình mãi không đến. Cha không chống đỡ nổi, anh dũng hy sinh.
Ta thấy trên phố có không ít bách tính tự nguyện để tang. Thảo nào hoàng đế lại sợ Tiêu gia đến vậy.
Vậy mà hoàng đế lại tuyên bố với bên ngoài rằng đã điều tra rõ quân tình, Tiêu Khởi lơ là chức trách, khiến thành bị phá. Ông ta thu hồi tước vị của Tiêu gia, lại mượn danh thanh tra mà tịch biên phủ tướng quân.
Nửa nhà họ Tiêu sụp đổ chỉ sau một đêm, danh tiếng cũng bị bôi nhọ. Cả kinh thành không ai còn dám nhắc đến Tiêu gia.
Hoàng đế phái võ tướng mới đi chống người Đột Quyết, nhưng rơi vào thế giằng co. Bọn họ không có những ngày tháng huấn luyện miệt mài như Tiêu gia quân, không biết điểm yếu của người Đột Quyết. Còn Tiêu gia quân thì đã sớm bị hoàng đế chia nhỏ, sáp nhập vào các doanh khác. Biên ải bây giờ như nước sôi lửa bỏng, chiến sự giằng co.
Khi ta theo tổ mẫu chuẩn bị dọn nhà, lục hoàng tử và thất hoàng tử lần lượt đến thăm. Họ đều đến cầu hôn ta.
Lục hoàng tử nói với ta: “Bây giờ Tiêu gia sa sút, sau này ta có thể bảo vệ ngươi.”
Thất hoàng tử nói với ta, gả cho hắn, hắn sẽ dốc hết sức mình.
Cha ta chết rồi. Họ không cho ta bạc, không cho ta chiêu binh mãi mã, mà chỉ nghĩ cách thu ta về dưới trướng mình.
Tổ mẫu mời họ về.
Đêm đó, bà nói với ta: “Tổ mẫu không che chở cho con được bao lâu nữa đâu, A Nguyệt.”
Ta nhìn ra, sức khỏe tổ mẫu mỗi ngày một sa sút. Cái chết của cha là đòn giáng quá lớn với bà. Giờ bà trông đúng là một bà lão gầy guộc rồi.
“Tổ mẫu, con sẽ gánh vác Tiêu gia.” Ta hứa với bà.
Đôi mắt tổ mẫu đã có phần đục mờ, ánh mắt nhìn ta lại đầy vẻ không nỡ. Bà im lặng rất lâu, rồi nói: “Chọn người đi. Phủ tướng quân đã là đường cùng rồi. Nguyệt nhi, con phải sống cho tốt.”
“Năm ấy tổ mẫu đi chùa thắp hương, là để cầu trời phù hộ cho cha con. Tàn hương gãy, rơi xuống tay tổ mẫu. Khi ấy tổ mẫu đã biết, ông trời không chịu cho nó đường sống. May mà có con, nó mới gắng gượng thêm được mấy năm.”
“Con là đứa có chủ kiến, tự khắc biết cha con chết thế nào. Sống tiếp đi, A Nguyệt. Tổ mẫu chỉ còn mỗi con thôi.”
Ta quỳ bên chân tổ mẫu rất lâu.
Người phu trạm ấy đến tìm ta vào cuối tháng.
Ông ta không mang theo binh khí, chỉ có một túi vải cũ và đôi bàn tay run rẩy. Trong túi là bản sao phiếu chuyển quân báo, vẫn còn ghi ngày tháng và dấu nhận của từng trạm.
“Tiểu nhân đã giao thư đúng hạn.”
Ông ta lặp đi lặp lại mỗi câu ấy.
Ta đọc rất chậm. Có những ký hiệu của trạm dịch, ta phải hỏi người phu trạm mới hiểu.
Cha xin viện binh ba lần. Các trạm đường xa đều chuyển thư kịp lúc, nhưng quân báo lại nằm lì nhiều ngày sau khi đã tới nơi tiếp nhận ở kinh thành.
Một người cũ khác mang đến sổ xuất lương. Ngày ghi trên lệnh và ngày kho thực sự mở cửa không trùng nhau.
Từng tờ giấy riêng lẻ chưa nói hết mọi chuyện. Nhưng khi đặt cạnh lời kể của những người sống sót, chúng không còn giống một lần chậm trễ ngẫu nhiên nữa.
Ta hỏi Chu phó tướng, người phó tướng cũ của cha, vì bị thương nặng mà được đưa về kinh trước trận phục kích.
“Vì sao cha ta không rút quân?”
Ông nhìn ngọn đèn, giọng khàn đi: “Sau lưng là dân chưa kịp đi hết. Phía trước là quân địch. Trong tay tướng quân còn có lệnh phải giữ thành.”
Ta cúi xuống, vuốt phẳng mép tờ giấy. Lần này, ta không khóc trước mặt họ.
Ta hỏi còn có thể tìm thêm những ai làm chứng.
Ta đã hiểu. Hoàng đế đa nghi, dù đã thu binh quyền của Tiêu gia, ông ta vẫn không yên lòng. Danh vọng của Tiêu gia trong lòng bách tính những năm qua quá lớn. Cha từng nghĩ chỉ cần thu mình lại, hoàng đế sẽ thôi kiêng dè. Hoàng đế cho ta vào cung làm bạn đọc, là để tiện trông chừng ta, cũng trông chừng Tiêu gia.
Ta tự nhốt mình trong phòng ba ngày. Cuối cùng, ta nói với tổ mẫu, ta sẽ gả cho thất hoàng tử.
Bây giờ ngôi thái tử còn bỏ trống. Nhị hoàng tử nhiều bệnh, hoàng đế không ưa. Ngũ hoàng tử từ nhỏ đã xuất sắc, là người được nhắm đến nhiều nhất cho ngôi trữ quân. Còn hai vị lục và thất hoàng tử, lục hoàng tử đương nhiên sẽ dốc sức ủng hộ ngũ hoàng tử cùng mẹ với mình.
Thất hoàng tử lại không có mẫu phi, thế cô lực mỏng, hoàng đế cũng không thích, gần như là người bên lề, không ở giữa tâm bão.
Gả cho một hoàng tử bên lề, xem chừng rất an toàn.
Chúng ta nhanh chóng trao đổi canh thiếp, bàn bạc xong, đợi ta để tang cha đủ một năm thì thành thân.
Ngày đến bàn chuyện, thất hoàng tử đặt trước mặt ta một túi bạc và mấy phong thư.
“Ta chỉ có chừng này.”
Hắn nói thẳng hơn hẳn lời cầu hôn hôm trước. Người hầu cũ của mẹ hắn còn vài mối quen trong cung. Những năm qua, hắn giúp đỡ một số quan lại ít được trọng dụng, đổi lấy tin tức và sự che chở. Nhưng phần lớn người trong triều vẫn không coi hắn là người có thể kế vị.
“Ta không thể thay ngươi nuôi một đội quân.”
“Ta cũng không cần ngươi làm việc ấy.”
Ta đẩy tờ ghi những điều kiện sang. Hắn giúp tìm hồ sơ ở kinh thành, bảo vệ tổ mẫu, chuyển tin tức. Ta tự gây dựng lực lượng ở biên ải. Mọi chứng cứ liên quan đến việc minh oan cho cha, cả hai cùng giữ.
Thất hoàng tử đọc xong, cười nhẹ: “Ngươi đề phòng ta?”
“Ta không muốn một ngày nào đó chúng ta phải cãi nhau xem ai từng hứa điều gì.”
Hắn nhìn ta lâu hơn mọi lần, rồi cầm bút ký.
Những ngày ta túc trực bên linh cữu, ngày nào thất hoàng tử cũng đến bầu bạn, mua bánh ngọt cho ta, tìm đủ cách cho ta vui. Giống như hai con thú nhỏ sưởi ấm cho nhau.
Chiến sự biên ải căng thẳng, mãi không ngã ngũ. Ta thường mơ thấy cha bị người Đột Quyết chém đầu, máu phun như tên bắn. Trong mơ, ông nói với ta: “A Nguyệt, sống cho tốt.” Tỉnh dậy, gối ướt đẫm một mảng.
Hoàng đế phái đi hết lớp tướng này đến lớp tướng khác, vẫn không chặn nổi người Đột Quyết thế như chẻ tre. Đã có không ít đại thần dâng sớ cầu hòa, chủ trương đình chiến. Họ muốn gác lại mối huyết hải thâm thù bao năm, tiếp nạp người Đột Quyết. Đương nhiên, số người không đồng ý còn nhiều hơn.
Hoàng thành mưa gió sắp nổi.
Đến ngày giỗ đầu của cha, ta nói với thất hoàng tử, ta sẽ đi biên ải. Đây là thông báo, không phải bàn bạc.
Hắn như đã sớm đoán được, chỉ nói: “Đi đi. Mọi chuyện ở kinh thành, ta lo liệu cho ngươi.”
Chúng ta đều không nói hết lời. Ta không phải đi báo thù người Đột Quyết. Ta muốn báo thù hoàng đế. Thứ ta chọn không phải phu quân, mà là minh hữu. Hắn cũng hiểu điều đó.
Trước lúc lên đường, thất hoàng tử tháo miếng ngọc bội bên hông đưa cho ta.
“Đây là di vật của mẫu thân ta. Bà là một cung nữ thấp hèn, nên phụ hoàng chưa bao giờ thích bà. Đây là thứ duy nhất bà để lại cho ta. Chuyến này đường xá hiểm nguy, ngươi mang theo, mong nó phù hộ ngươi bình an.”
Miếng ngọc bội đã cũ. Nhưng ta biết đó là thứ thất hoàng tử quý trọng nhất. Năm xưa lục hoàng tử ném nó xuống nước, hắn bất chấp trời đông giá rét, nhảy xuống mò lên bằng được.
Ta nhìn hắn, trịnh trọng nhận lấy.
Ta mai danh ẩn tích, một đường lên phương bắc, đi thẳng đến tòa thành nơi cha thất thủ: Hắc Thủy thành.
Hắc Thủy thành không tệ hại như những gì người ta tả trong tội danh gán cho cha. Viện binh hoàng đế phái đến sau này đều đóng quân ở đây.
Ta thấy các tướng quân trong trướng uống rượu ăn thịt, trong khi ngoài thành chính là quân Đột Quyết. Bọn họ bảo, trận này cứ từ từ mà đánh, người Đột Quyết dù sao cũng giết không hết.
“Tiêu Khởi biết rõ hoàng thượng có ý cầu hòa với Đột Quyết, vậy mà vẫn ra tay tàn độc với chúng, đúng là tự chuốc lấy. Giờ Tiêu gia đổ rồi, chúng ta đánh thêm vài tháng nữa, hoàng thượng sẽ có lời ăn nói với bách tính, rằng người Đột Quyết khó đánh, rồi ký kết bang giao với chúng.”
“Ngươi hỏi sao không đánh Đột Quyết à? Đồ ngốc. Hoàng thượng đa nghi, không chịu buông binh quyền. Thà hòa bình, tốt nhất đừng đánh nữa. Không thì lại sinh ra một Tiêu gia nữa.”
Ta đứng ngoài trướng, siết chặt chuôi đao, rồi buông ra.
Giết bọn chúng lúc này thì dễ. Nhưng giết xong, ta chỉ là một kẻ lạ mặt sát hại chủ tướng. Không ai ở đây có lý do để tin ta.
Ta không vừa đến biên ải đã tự xưng là người kế thừa Tiêu gia.
Người đầu tiên ta tìm là Hàn đội trưởng, một người từng theo cha nhiều năm. Ông nhận ra ta, nhưng không chịu giao người.
“Đại tiểu thư biết cầm đao, chưa chắc đã biết đưa người sống trở về.”
Ta không giận. Ta xin đi cùng đội cứu những người còn mắc kẹt ngoài thành.
Sau trận ấy, ta trở về với một vết thương ở vai và danh sách những người chưa tìm được. Ta không nhận hết công, cũng không giấu tên những người đã chết.
Những ngày tiếp theo, ta cùng họ kiểm kê lương thảo, sửa lại chỗ trú cho thương binh, rồi đem những khoản quân nhu thiếu hụt ra đối chất trước mặt các đội trưởng.
Viên chủ tướng muốn đẩy tội cho người giữ kho. Nhưng sổ sách và lời khai không khớp với lời ông ta nói. Những người từng im lặng bắt đầu lên tiếng.
Đến hôm đối chất cuối cùng, ông ta biết không chối được nữa, bèn ra lệnh cho thân binh giết hết người làm chứng.
Thân binh của ông ta rút đao. Đao của ta nhanh hơn.
Viên chủ tướng ngã xuống ngay trước mặt các đội trưởng. Mấy tên phó tướng cùng phe với ông ta buông vũ khí, bị trói lại giam riêng, đợi ngày có người xét tội.
Tin báo về kinh chỉ nói chủ tướng tử trận trong một đêm Đột Quyết tập kích. Thất hoàng tử lo phần còn lại.
Khi quân địch tiến sát thành, chính các đội trưởng đề nghị để ta chỉ huy một cánh quân. Ta nhận lệnh trước mặt họ, cũng nhận luôn trách nhiệm nếu thất bại.
Trận đầu, ta giữ được đường tiếp tế. Trận sau, chúng ta đưa thêm được dân vào thành.
Không phải ai cũng tin ta ngay. Ta mất nhiều tháng mới khiến họ chịu nghe lệnh mà không phải liếc nhìn người bên cạnh.
Một tối, Hàn đội trưởng đặt bát cơm xuống trước mặt ta.
“Ăn đi, tướng quân.”
Ta ngẩng lên. Ông đã quay đi, như thể chỉ thuận miệng gọi vậy thôi.
Ta học theo cách cha bày binh bố trận. Không chỉ giữ vững Hắc Thủy thành, ta còn đẩy lùi người Đột Quyết mấy trăm dặm.
Thất hoàng tử ở kinh thành tiếp ứng, che giấu cho ta. Mấy năm nay, dường như thủ đoạn của hắn đã thông thiên, đến chuyện như thế này cũng giấu trời qua biển được.
Ta nhanh chóng nắm được binh quyền nơi biên ải. Đội tinh nhuệ theo cha đã chết trong trận phục kích, nhưng những đơn vị đồn trú, thương binh, phu vận lương và quân ở các thành khác vẫn còn. Ta thu gom từng toán quân rải rác ấy về một mối.
Người ở biên ải đều biết, có một nữ tướng quân rất lợi hại đã đánh lui người Đột Quyết. Với bách tính biên ải, được sống những ngày yên ổn là đủ, còn cần gì biết tướng quân là nam hay nữ. Họ mang ơn ta vô cùng.
Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Ta định giết thủ lĩnh người Đột Quyết, Ba Đồ.
Vốn dĩ, người Đột Quyết đã bị tổ phụ đánh cho tan tác không thành hình. Nhưng Ba Đồ là thủ lĩnh mới lên. Hắn thủ đoạn tàn độc, dã tâm bừng bừng, những năm qua lôi kéo được cả một loạt bộ tộc du mục xung quanh, liên tục kéo đến xâm phạm.
Cũng chính hắn đã giết cha.
Giết được Ba Đồ, liên minh do hắn đứng đầu sẽ tan rã hoàn toàn. Chiến sự nơi biên ải cũng sẽ chấm dứt.
Ta lần theo dấu vết Ba Đồ suốt nửa tháng, nắm rõ đường đi nước bước của hắn, lại bố trí quân từ phía nam, chuẩn bị tập kích ban đêm.
Nhưng khi ta đánh vào đến lều của Ba Đồ, bên trong trống không.
Ba Đồ đứng cách đó không xa, giơ cao bó đuốc, cười đầy đắc ý. Vô số mũi tên xé gió lao tới.
Ta nép xuống dưới bụng ngựa, đội mưa tên xông thẳng vào trận địch, chém Ba Đồ làm đôi cả người lẫn ngựa.
Nhưng tàn quân của Ba Đồ quá đông. Dù có phó tướng yểm hộ, trên người ta vẫn trúng mấy mũi tên. Ta may mắn chạy thoát đến một cây cầu gãy. Bên dưới là một đầm nước sâu không thấy đáy.
Ta hoàn toàn mất đi ý thức, ngã nhào xuống.
Khi tỉnh lại, ta lại thấy ông lý trưởng.
Ông già đi nhiều lắm, tóc rụng mất một mảng. Ông vỗ đầu: “Ta đã bảo con nhóc này là điềm lành mà! Hồi nhặt được ngươi là từ dưới sông trôi lên, lần này cũng từ dưới sông trôi lên.”
Ta cũng không ngờ còn được trở về ngôi làng này.
Ông lý trưởng kể, họ sớm đã nghe nói có một nữ tướng quân đang giết người Đột Quyết. Ông liền đoán là ta. Lúc ta đi, ông đã nhìn thấy dấu hiệu phủ tướng quân trên xe ngựa.
Người trong làng kéo đến thăm ta rất đông. Ai cũng mang theo thứ ngon nhất trong nhà. Có trứng gà, thịt hun khói, măng rừng, còn có đủ thứ gà vịt cá thịt.
“Cái sức khỏe quái gở của ngươi đem đi giết người Đột Quyết là vừa khéo.”
“Thủ lĩnh người Đột Quyết chết rồi, bọn chúng rút về thảo nguyên. Chúng ta cũng không phải đánh nhau nữa.”
Ta bị thương quá nặng, ở lại làng dưỡng thương hơn một tháng.
Trong một tháng ấy, thất hoàng tử đã đem tin đại thắng người Đột Quyết truyền khắp kinh thành. Bách tính hân hoan, ca ngợi không ngớt. Hoàng đế dù không cam lòng đến mấy, cũng chỉ có thể gãy răng nuốt vào bụng.
Chỉ là, không ai biết vị tướng quân giết Ba Đồ là ai. Hoàng đế chỉ biết vị tướng ấy đã đồng quy vu tận với Ba Đồ. Người chết rồi, hoàng đế cũng chẳng có cách nào truy cứu.
Trong lúc ta dưỡng thương ở làng, thuộc hạ cũ của cha tìm đến. Tiêu gia quân về cơ bản đã tập hợp xong, lấy ta làm đầu.
Tiêu gia quân chưa chết.
Họ được hoàng đế ban thưởng, sắp lên đường về kinh. Hoàng đế muốn họ ở lại hoàng thành. Một đội quân hùng mạnh như vậy, ông ta không yên tâm để họ ở lại biên ải.
Thương thế của ta cũng đã gần lành, bèn theo quân trở về.
Về kinh chưa bao lâu, Tiêu gia quân được biên chế vào Ngự lâm quân.
Nửa năm sau là ngày đại hôn của ta và thất hoàng tử.
Nửa năm ấy, hắn ở kinh thành từng bước gian nan. Chúng ta thường mật đàm đến khuya, phân tích cục diện triều chính. Người nào dùng được, người nào phải trừ, người nào cần thủ đoạn đặc biệt. Ta cũng âm thầm giúp hắn xử lý không ít phiền phức.
Ngôi trữ quân vẫn bỏ trống. Thậm chí có người nói, hoàng đế muốn giết hết con cái của mình. Lòng mê luyến hoàng quyền của ông ta đã thành bệnh.
Chúng ta định ra tay vào chính ngày đại hôn.
Cũng trong nửa năm ấy, thất hoàng tử bắt đầu đề nghị, sau đại hôn ta giao lại binh quyền.
“Nàng vất vả đủ rồi. Sau này cứ ở trong cung, ta sẽ bảo vệ nàng.”
Ta hỏi ai sẽ nhận quân. Hắn đưa ra tên một người chưa từng đặt chân tới biên ải.
Ta không đồng ý.
Từ đó, những lá thư gửi cho ta bắt đầu đến muộn. Một người chuyển tin thân cận của ta mất tích. Người được cử đến thay lại khăng khăng muốn gặp riêng các đội trưởng, nhưng tránh mặt ta.
Ta cho người tra xét.
Vài ngày sau, Hàn đội trưởng mang tới cho ta một bản lệnh chưa công bố, có thủ bút của thất hoàng tử. Trong đó không nhắc gì đến luận công hay minh oan. Nó đổ lên đầu ta mọi việc từng làm theo thỏa thuận giữa hai người, còn hắn thì đứng ngoài, sạch sẽ.
Ta không muốn quyết định chỉ dựa vào một tờ giấy. Ta đem nó đối chiếu với việc điều chuyển người, với lời khai của những người nhận lệnh. Từng việc khớp nhau.
Đêm trước đại hôn, ta trả lại miếng ngọc bội cho thất hoàng tử.
“Minh ước của chúng ta sắp kết thúc rồi.”
Hắn nhìn miếng ngọc bội, không đưa tay nhận.
“Tiêu Nguyệt, nàng đối với ta thật sự không có nửa phần tình ý sao? Mười mấy năm nay, nàng là người duy nhất che chở cho ta. Nàng chọn ta, ta cứ ngỡ với nàng, ta là khác biệt.”
“Ta biết nàng muốn gì. Những gì nàng muốn, ta đều sẽ cho nàng. Ta sẽ minh oan cho Tiêu gia, sẽ đường đường chính chính cưới nàng làm vợ. Tương lai, nàng là hoàng hậu duy nhất của ta.”
Ta nhìn hắn. Những ngày qua, hắn đã làm cho ta rất nhiều. Giúp ta bí mật chăm sóc tổ mẫu, che giấu tin tức của ta nơi biên ải, thậm chí suýt nữa để lộ cả thế lực ngầm của mình.
Ta nhìn người từng ngồi bên cạnh giảng bài cho mình.
“Nếu ta không giao quân, ngươi vẫn cưới chứ?”
Hắn nắm lấy tay ta, nói chuyện đó để sau hãy bàn.
Ta rút tay về. Ta đã có câu trả lời.
Nhưng ta chỉ nói: “Đợi mọi chuyện ngã ngũ, ta sẽ cho ngươi câu trả lời.”
Trong mắt hắn sáng lên tia hy vọng.
Ngày đại hôn, hoàng đế đến.
Đứa con trai mà ông ta xem thường nhất, lại được Khâm Thiên Giám tiên đoán có thể thông linh với thần, đạt đến thiên đình. Hoàng đế muốn trường sinh, nên ông ta đến.
Đó là lần duy nhất hoàng đế tỏ ra coi trọng hắn. Cũng là lần cuối cùng.
Cả nội viện đều là người của Tiêu gia quân. Lòng trung thành của họ với cha đã nối dài sang ta.
Ta tự tay bắn một mũi tên xuyên qua cổ họng hoàng đế. Đến lúc chết, ông ta vẫn không tin nổi.
Thất hoàng tử bước tới nắm lấy tay ta, trong mắt tràn đầy vui mừng.
“A Nguyệt, chúng ta thành công rồi. Di chiếu ta đã chuẩn bị sẵn, giấu trong Ngự thư phòng. Ta chỉ tin nàng, nàng cùng ta đi lấy nhé.”
Ta nắm chặt đao, nhìn hắn: “Người ngươi mai phục ở Ngự thư phòng, đã bị giết sạch rồi.”
Sắc mặt hắn thay đổi. Hắn lùi lại một bước, hô lớn gọi người.
Không ai đến cả.
Hắn rút con dao giấu trong tay áo, lao về phía ta. Ta trở đao một nhát, không chút do dự.
Vẻ mặt hắn lúc ngã xuống, giống hệt hoàng đế.
Trong tay hắn có quá nhiều điểm yếu của ta. Ta tự tay giết hoàng đế. Chỉ cần hắn sai người bắt ta, là có thể định ngay tội giết vua. Khi ấy, hắn sẽ có lý do chính đáng để bước lên ngôi báu.
Đáng tiếc, hắn tính sai rồi.
Nếu nhất định phải có người ngồi vào vị trí ấy, vì sao không thể là ta? Ta đã làm nhiều như vậy, sao có thể chỉ để may áo cưới cho một người đàn ông?
Còn phải cảm ơn thất hoàng tử, đã thay ta dọn sạch thế lực của các hoàng tử khác.
Ta tuyên bố với bên ngoài, thất hoàng tử giết vua bức cung, đã bị ta tru sát.
Nhưng sau đêm ấy, chẳng ai tự nhiên quỳ xuống xin ta làm hoàng đế.
Có người đóng cửa không lên triều. Có người đòi lập một vị hoàng thân khác. Có người chỉ nhìn ta, hỏi quân lương tháng sau lấy ở đâu ra.
Ta phải trả lời từng việc một.
Hồ sơ về trận thua của cha được đưa ra xét lại, có người làm chứng, đối chiếu công khai. Những kẻ có tội phải chịu xử lý. Những người không liên quan vẫn tiếp tục làm việc.
Ta giữ lại những vị quan giỏi việc thuế khóa, kho lương và trị thủy, kể cả những người không ưa ta. Đổi lại, họ không được lấy chuyện đổi ngôi làm cớ để mặc dân đói, hay tự ý bắt người.
Tiêu gia quân giữ được kinh thành, nhưng không thể thay tất cả những người giữ sổ sách, sửa đê điều và xét án.
Tổ mẫu được ta đón vào cung, tôn làm Thái hoàng thái hậu. Lần đầu ngồi lên vị trí ấy, môi bà run run. Về sau, bà cũng dần quen.
Tổ mẫu hỏi ta có sợ không.
Ta đáp có.
Hồi nhỏ, ta chỉ cần lo ngày mai săn được gì. Bây giờ, một nét bút của ta có thể khiến những người ta chưa từng gặp phải chịu đói.
Bà sửa lại cổ áo cho ta.
“Biết sợ điều ấy, thì đừng bao giờ quên.”
Ta không quên.
Ta ngự giá thân chinh, đánh người Đột Quyết lùi mỗi lúc một xa, buộc chúng phải quỳ xuống cầu hòa, trở thành phiên thuộc của triều ta.
Cha được minh oan, được ta truy phong. Năm nào ta cũng dẫn người trong thiên hạ đến tế bái ông. Ta nghĩ, nếu cha nhìn thấy, chắc ông lại lộ ra cái vẻ mặt cạn lời ấy.
Đến mùa đông đầu tiên, lương cứu tế tới được những thôn làng ngoài biên giới, trong đó có ngôi làng dưới chân núi của ông lý trưởng. Mùa xuân năm sau, có người dân mang đơn lên tận kinh thành. Không phải để ca tụng, mà để kiện một viên quan dưới quyền ta.
Ta nhận lá đơn ấy.
Ngai vàng không còn giống phần thưởng cuối một trận đánh. Nó là nơi mỗi sáng ta phải ngồi xuống, tiếp tục làm những việc còn dang dở.
Nhìn lại, đời này của ta, cũng xem như không sống uổng.
Hết.
Câu chuyện của Tiêu Nguyệt đến đây là khép lại. Điều đọng lại nhất có lẽ không phải ngai vàng, mà là cô bé từng ngồi dưới chân giường vì sợ làm hỏng nệm, đến cuối cùng vẫn nhớ cái đói là thế nào. Sức mạnh giúp cô sống sót, nhưng chính tổ mẫu, người cha nuôi và những người lính nơi biên ải mới dạy cô sống vì người khác.
Cảm ơn bạn đã lắng nghe tại Chà Chà Audio. Hẹn gặp lại bạn trong những câu chuyện tiếp theo.
Để lại bình luận